• Thứ bảy, 25 Tháng 11 năm 2017
  • Thứ bảy, 25 Tháng 11 năm 2017

Tạp chí địa chất Số 349/1-2/2015

Tạp chí địa chất

Số 349/1-2/2015

 

 

Bài 1: DỰ BÁO TRIỂN VỌNG KHOÁNG SẢN PHÓNG XẠ - ĐẤT HIẾM VÙNG TÂY BẮC VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ PHÂN TÍCH, XỬ LÝ TÀI LIỆU ĐỊA VẬT LÝ

LA THANH LONG, NGUYỄN QUANG HƯNG

Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, 6 Phạm Ngũ Lão, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Tóm tắt: Trên cơ sở tổng hợp, xử lý và phân tích tài liệu địa vật lý, kết hợp với tài liệu địa chất khoáng sản, sinh khoáng phóng xạ vùng Tây Bắc Việt Nam, các tác giả đã xây dựng được bộ tiêu chuẩn, dấu hiệu địa chất - địa vật lý để dự báo triển vọng khoáng sản phóng xạ - đất hiếm. Các diện tích trường dị thường phóng xạ với giá trị lớn và cường độ cao liên quan mật thiết với triển vọng khoáng sản phóng xạ - đất hiếm.

Sử dụng các tiêu chuẩn, dấu hiệu địa chất - địa vật lý này, các tác giả bài báo đã khoanh định được 17 diện tích có triển vọng khoáng sản phóng xạ - đất hiếm, được phân thành 3 cấp A, B, C. Trong đó, 9 vùng dự báo triển vọng cấp A, 3 vùng dự báo triển vọng cấp B và 5 vùng dự báo triển vọng cấp C.

Bài 2: LUẬN GIẢI MÔI TRƯỜNG LẮNG ĐỌNG CỦA CÁC TRẦM TÍCH ĐỆ TAM KHU VỰC HẠ LONG, QUẢNG NINH

HOÀNG VĂN LONG

Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội

Tóm tắt: Các trầm tích Đệ tam khu vực Hạ Long phân bố rải rác thành các dải hẹp và được cho là tương đồng với các thành tạo trầm tích Đệ tam trong các bể chứa dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam.

Trên cơ sở tổng hợp, xử lý các kết quả phân tích thạch học, độ hạt, cổ sinh, số liệu đo vẽ địa tầng chi tiết cùng với các dạng cấu tạo quan sát trực tiếp ngoài thực địa, các thành tạo trầm tích Đệ tam khu vực Hạ Long được phân chia thành bốn tướng thạch học và môi trường lắng đọng tương ứng: (1) tướng cát kết phân lớp xiên chéo được lắng đọng trong môi trường dòng sông; (2) tướng sét-bột kết chứa vật chất than lắng đọng trong môi trường đồng bằng ven sông; (3) tướng cát-cuội-sạn kết cấu tạo hạt mịn dần, thành tạo trong môi trường doi cát ven bờ; và (4) tướng sét kết giàu vật chất hữu cơ được thành tạo trong môi trường hồ lục địa. Kết quả nghiên cứu tướng, môi trường lắng đọng trầm tích và đặc điểm, tính chất hoạt động kiến tạo khu vực đã chỉ ra rằng vùng nghiên cứu chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các hoạt động tân kiến tạo, chủ yếu là hoạt động biến dạng dòn và căng giãn cùng với yếu tố trượt bằng khu vực.

 

Bài 3: PHÂN TÍCH ĐỊA MẠO TRÊN CÁC THÀNH TẠO ĐỊA CHẤT TẠI THUNG LŨNG HẠ LƯU SÔNG ĐÀ 

NGUYỄN XUÂN NAM1, TRẦN TÂN VĂN1, HẠ VĂN HẢI2

1Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
2Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội

Tóm tắt: Sông Đà là con sông lớn bắt nguồn từ Vân Nam Trung Quốc chảy qua miền tây bắc Việt Nam với chiều dài 527 km, theo hướng chủ đạo là tây bắc - đông nam. Tuy nhiên, đoạn hạ lưu của nó từ Hòa Bình lại đổi hướng chảy lên phía bắc nhập vào sông Hồng tại Việt Trì. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu thung lũng hạ lưu sông Đà với việc thành lập bản đồ địa mạo bằng kỹ thuật GIS và viễn thám, phân tích một số dạng địa hình và tương tác của chúng với các thành tạo địa chất. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng bề mặt địa hình phụ thuộc rất lớn vào các thành tạo địa chất và trên cơ sở đó xác định một cách chính xác hơn các bề mặt địa hình như bề mặt bóc mòn, xâm thực, kiến tạo... Bài báo cũng luận giải về thời gian hình thành thung lũng hạ lưu sông Đà, qua đó cho thấy đoạn thung lũng sông này mới chỉ xuất hiện trong kỷ Đệ tứ vào giai đoạn Pleistocen giữa.

Bài 4: DI SẢN ĐỊA CHẤT HANG ĐỘNG NÚI LỬA ĐỘC ĐÁO Ở ĐẮK NÔNG ĐÃ ĐƯỢC PHÁT HIỆN VÀ XÁC LẬP KỶ LỤC*

LA THẾ PHÚC1, HIROSHI TACHIHARA2, TSUTOMU HONDA2, TRƯƠNG QUANG QUÝ1, LƯƠNG THỊ TUẤT3

1Bảo tàng Địa chất, 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội; 2Hội Hang động Núi lửa Nhật Bản, 3Tổng hội Địa chất Việt Nam, 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội

Tóm tắt: Hang động trong đá basalt ở khu vực Krông Nô, tỉnh Đắk Nông đã được các nhà địa chất ở Bảo tàng Địa chất phát hiện và nghiên cứu từ năm 2007. Kết quả phát hiện đã được công bố rộng rãi ở trong và ngoài nước, thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học nước ngoài, trong đó có các nhà khoa học thuộc Hội Hang động Núi lửa Nhật Bản. Nhóm hợp tác nghiên cứu của Hội Hang động Núi lửa Nhật Bản và Bảo tàng Địa chất đã cùng nhau khảo sát, đo đạc và nghiên cứu chi tiết 3 trong số hàng chục hang động được phát hiện trong khu vực. Kết quả nghiên cứu bước đầu đã xác lập được một số kỷ lục Đông Nam Á về độ dài (1.066,5 m), tính độc đáo cũng như các đặc trưng về cấu tạo hang động, dòng dung nham, các hóa thạch trong hang và một số vấn đề liên quan đến quá trình hoạt động phun trào basalt. Bài báo này giới thiệu quá trình phát hiện và một số thông tin khoa học liên quan tới hang động trong đá basalt vùng nghiên cứu.

Bài 5: VỀ HAI ĐIỂM DI SẢN ĐỊA CHẤT HÒN CHẸ VÀ HÒN KHỤ
VÙNG BA VÌ, HÀ NỘI

TẠ HÒA PHƯƠNG

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Nghiên cứu các loại hình di sản địa chất đối với nước ta hiện nay còn là công việc mới mẻ, thậm chí chưa có các tiêu chí đánh giá cụ thể trong các văn bản pháp quy từ cấp Nhà nước đến địa phương. Qua nghiên cứu vùng Ba Vì, Hà Nội có thể thấy nơi đây có đa dạng địa chất cao, có nhiều di sản địa chất - cảnh quan tốt, có thể sử dụng với mục tiêu phát triển du lịch, tiến tới xây dựng một Công viên địa chất ở vùng này. Hai điểm di sản Hòn Chẹ và Hòn Khụ được nghiên cứu chi tiết cho thấy tính độc đáo của chúng cả về địa tầng, kiến tạo, địa mạo và đá. Đá vôi của các núi này là thành phần chính của hệ tầng Na Vang (P2 nv) trong khu vực, cũng là hệ tầng đá carbonat duy nhất trong vùng. Các đá đã bị nghiền nát trong đới dập vụn, trở thành đá cataclazit. Cả hai núi đá vôi này đều là những cảnh quan địa mạo đẹp, gắn liền với truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh của thời kỳ dựng nước, do vậy càng có ý nghĩa hơn trong việc khai thác phục vụ du lịch.

Bài 6: ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TỰ BẢO VỆ CỦA CÁC TẦNG CHỨA NƯỚC KARST Ở VIỆT NAM

PHẠM QUÝ NHÂN1, VŨ THỊ MINH NGUYỆT2, TRẦN THÀNH LÊ1

1Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Phú Diễn, Bắc Từ Liêm, Hà Nội

2Viện Địa chất, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội

Tóm tắt: Khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước thể hiện mức độ giảm thải hay thanh lọc các chất ô nhiễm của tầng chứa nước. Qua phân tích điều kiện áp dụng, ưu nhược điểm của các phương pháp đánh giá khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước trên thế giới, đặc trưng của các tầng chứa nước karst cũng như điều kiện cụ thể áp dụng ở Việt Nam, phương pháp hai yếu tố “CO cải tiến” đã được các tác giả lựa chọn. Kết quả ứng dụng của phương pháp vào tầng chứa nước đá carbonat nứt nẻ - karst của hệ tầng Bắc Sơn có tuổi Carbon muộn-Permi sớm (C2-P1 bs) vùng thành phố Lạng Sơn, là tầng chứa nước chính được khai thác phục vụ ăn uống, sinh hoạt, đã cho kết quả đáng tin cậy.

Bài 7: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

LẠI HỒNG THANH1, TRỊNH PHƯƠNG THẢO2

1Cục Kiểm soát hoạt động khoáng sản miền Bắc, 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội; 2Tạp chí Địa chất, 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội

Tóm tắt: Tài nguyên khoáng sản là tài sản thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý và là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về khoáng sản và hoạt động khoáng sản đã có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần khắc phục. Bài báo này giới thiệu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên khoáng sản Việt Nam, tiến tới phát triển bền vững nguồn tài nguyên khoáng sản của đất nước.

Bài 8: ĐẶC ĐIỂM QUẶNG HOÁ KIM LOẠI HIẾM LITI VÙNG LA VI, QUẢNG NGÃI

DƯƠNG NGỌC TÌNH, NGUYỄN MẠNH HẢI, NGUYỄN HƯỚNG, TRẦN HOÀNG VŨ, NGUYỄN THỊ MƠ

 Liên đoàn Địa chất Trung Trung Bộ, Nguyễn Thái Học, Tp. Quy Nhơn, Bình Định

Tóm tắt: Đới khoáng hóa chứa kim loại hiếm liti vùng La Vi nằm ở rìa Đông Địa khối Kon Tum. Các thân quặng bao gồm các đai mạch pegmatoit bị greisen hóa, albit hóa phân bố gần nơi tiếp xúc giữa granitoid phức hệ Sa Huỳnh và các đá siêu biến chất tướng granulit phức hệ Kan Năck. Đây là kiểu khoáng hóa pegmatit chứa kim loại hiếm khá điển hình, có giá trị cao, đặc biệt là liti và thiếc đạt hàm lượng công nghiệp. Ngoài ra, các nguyên tố đi kèm còn có tantan, niobi, rubi, cesi và beryl 

Các kết quả nghiên cứu cho thấy đới kim loại hiếm vùng La Vi được phát hiện có ý nghĩa lớn về thực tiễn và khoa học, làm cơ sở cho việc thăm dò, khai thác khoáng sản liti trong thời gian tới, góp phần phát triển ngành công nghiệp khai khoáng của lãnh thổ. Đồng thời, các kết quả này kết hợp với các khoáng sản mới phát hiện gần đây có thể nói rằng các vùng thuộc Địa khối Kon Tum, nơi có tiền đề địa chất, dấu hiệu tìm kiếm và cấu trúc địa chất tương tự vùng nghiên cứu, sẽ có triển vọng lớn về các loại khoáng sản quý hiếm như liti, thiếc, volfram, urani và các khoáng sản khác.

Bài 9: ĐẶC ĐIỂM CHẤT LƯỢNG VÀ TIỀM NĂNG TÀI NGUYÊN QUẶNG MANGAN KHU VỰC TRÀ LĨNH - TRÙNG KHÁNH, CAO BẰNG

NGUYỄN PHƯƠNG1, ĐỖ VĂN THANH2, NGUYỄN THỊ THU HẰNG3, NGUYỄN XUÂN ÂN4       

1Đại học Mỏ- Địa Chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội; 2Liên Đoàn BĐĐC miền Bắc, Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội; 3Cty CP Tư vấn triển khai CN Mỏ - Địa Chất, Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội; 4Ban Kinh tế Trung Ương, Cát Linh, Đống Đa, Hà Nội

Tóm tắt: Kết quả nghiên cứu, tổng hợp, xử lý và phân tích các tài liệu đo vẽ bản đồ địa chất khu vực, tài liệu tìm kiếm, thăm dò và khai thác quặng mangan khu vực Trà Lĩnh - Trùng Khánh, Cao Bằng cho thấy vùng nghiên cứu có cấu trúc địa chất khá thuận lợi cho tạo khoáng mangan nguồn gốc trầm tích. Các yếu tố địa tầng và thạch học đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phân bố quặng mangan trong vùng. Quặng mangan có giá trị công nghiệp phân bố tập trung trong các thành tạo trầm tích thuộc hệ tầng Tốc Tát. Khoáng vật quặng chủ yếu là psilomelan, pyrolusit, manganit, braunit, hausmanit, rodochrosit, rodonit. Hàm lượng Mn trong các thân quặng, đới khoáng hóa dao động từ 5,88-52,41%, trung bình 15-20%, thuộc loại trung bình đến cao. Phân bố hàm lượng thuộc loại tương đối ổn định.

Tiềm năng quặng mangan khá lớn, phân bố chủ yếu ở Tốc Tát, Roỏng Tháy, Lũng Luông và ít hơn là Bản Khuông, Nộc Cu và Hạ Lang.

Bài 10: NGHIÊN CỨU ĐỐI SÁNH RUBY, SAPHIR TỪ CÁC MỎ KHÁC NHAU CỦA VIỆT NAM

LÊ THỊ THU HƯƠNG

Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Hiện nay, các mỏ ruby và saphir chất lượng cao của Việt Nam xuất hiện tại Yên Bái (Lục Yên) và Nghệ An (Quỳ Châu và Quỳ Hợp). Saphir tối màu với trữ lượng lớn được khai thác ở các tỉnh Tây Nguyên (Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng), Đồng Nai và Bình Thuận. Ngoài ra, ruby và saphir còn có thể được khai thác ở Quảng Nam với trữ lượng và chất lượng thấp hơn. Nghiên cứu so sánh đặc điểm ngọc học, hóa học của ruby và saphir từ các mỏ khác nhau có thể đưa ra các đặc điểm đặc trưng của từng loại mỏ và ứng dụng phân biệt nguồn gốc địa lý của chúng. Saphir Tây Nguyên, các tỉnh miền Nam và saphir Quảng Nam được phân biệt với saphir Yên Bái và Nghệ An bởi chất lượng ngọc thấp, kém trong suốt. Hàm lượng Fe trung bình trong các mẫu saphir ở Tây Nguyên cao hơn rất nhiều so với saphir ở các vùng khác. Ruby Nghệ An và Yên Bái được phân biệt bởi tỷ lệ oxyt các nguyên tố tạo màu là Fe2O3/Cr2O3 và TiO2/Cr2O3. Ngoài ra, dựa vào hàm lượng các nguyên tố tạo màu Cr và Fe cũng có thể phân biệt ruby Yên Bái ở các mỏ khác nhau.

 

Lock full review www.8betting.co.uk 888 Bookmaker

Bản quyền thuộc Tổng cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam.
Địa chỉ: Số 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội. Tel: (84-4) 38260674. Fax: (84-4) 38254734. Email: webmaster@dgmv.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Tổng Cục Trưởng Tổng cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam.

External links are provided for reference purposes. The World News II is not responsible for the content of external Internet sites.
Template Design © Joomla Templates | GavickPro. All rights reserved.