• Thứ tư, 26 Tháng 7 năm 2017
  • Thứ tư, 26 Tháng 7 năm 2017

Tạp chí địa chất Số 341-345/3-8/2014

Tạp chí địa chất

Số 341-345/3-8/2014



Bài 1: MỘT SỐ THÀNH TỰU CỦA CÔNG TÁC ĐỊA VẬT LÝ TRONG ĐIỀU TRA ĐỊA CHẤT KHOÁNG SẢN

BÙI CÔNG QUẾ1, NGUYỂN QUANG HƯNG2

1Hội KHKT Địa vật lý Việt Nam;

2Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, 6 Phạm Ngũ Lão, Hoàn Kiếm, Hà Nội

     Tóm tắt: Những ứng dụng địa vật lý trong điều tra cơ bản địa chất, đánh giá, thăm dò khoáng sản ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1955. Trải qua gần 60 năm, công tác địa vật lý đã không ngừng phát triển và đã trở thành một thành phần không thể thiếu trong lĩnh vực điều tra, nghiên cứu này. Rất nhiều công trình, thành quả của công tác địa vật lý được ghi nhận và đánh giá cao. Bài báo điểm lại những kết quả nổi bật của công tác địa vật lý trong lĩnh vực điều tra cơ bản địa chất, tìm kiếm, đánh giá và thăm dò khoáng sản (không bao gồm các thành tựu địa vật lý trong lĩnh vực dầu khí) trong giai đoạn này.

Bài 2: LIÊN ĐOÀN VẬT LÝ ĐỊA CHẤT TRONG CÔNG TÁC ĐIỀU TRA ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN

LẠI MẠNH GIÀU

 Liên đoàn Vật lý Địa chất, Km9, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Bài báo giới thiệu quá trình hình thành và phát triển của Liên đoàn Vật lý Địa chất từ năm 1967 đến nay. Qua gần 50 năm phấn đấu, đến nay Liên đoàn Vật lý Địa chất đã hình thành một lực lượng lao động nhiều chuyên ngành, có trình độ vững vàng, đảm đương các nhiệm vụ địa vật lý đa dạng: địa vật lý mặt đất, địa vật lý máy bay, địa vật lý biển,... đóng góp xứng đáng cho công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản. Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, Liên đoàn Vật lý Địa chất đang hướng tới phát triển các phương pháp tìm kiếm khoáng sản dưới sâu, điều tra địa chất khoáng sản biển và thềm lục địa, hoàn thiện công nghệ bay đo tổ hợp địa vật lý…

Bài 3: LỰA CHỌN HỆ THỐNG THU NỔ ĐỊA CHẤN PHẢN XẠ 2D TRONG NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT VÀ ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ TỔNG THỂ TÀI NGUYÊN THAN BỂ THAN SÔNG HỒNG

LẠI MẠNH GIÀU1, NGUYỄN VÂN SANG1, NGUYỄN TRƯỜNG LƯU1,
KIỀU HUỲNH PHƯƠNG1, PHẠM VĂN HÙNG1,  
NGUYỄN THỊ NGỌC LÂM 1, NGUYỄN TUẤN TRUNG2

1Liên đoàn Vật lý Địa chất, Km9, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

2Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội

Tóm tắt: Phương pháp địa chấn phản xạ, được sử dụng để thăm dò dầu khí và khoáng sản khác như than, muối kali, v.v...

Tại Việt Nam, phương pháp địa chấn phản xạ trong tìm kiếm - thăm dò khoáng sản trong trầm tích đã được áp dụng từ những năm 70 thế kỷ trước nhưng còn rất hạn chế, do công nghệ máy, thiết bị và công nghệ xử lý chưa được hoàn thiện. Hiện nay, Liên đoàn Vật lý Địa chất đã được trang bị máy, thiết bị và công nghệ xử lý hiện đại.

Nhiệm vụ công tác địa chấn phản xạ 2D trong công tác điều tra địa chất cũng như đánh giá tiềm năng than ở đồng bằng sông Hồng đòi hỏi chiều sâu nghiên cứu hiệu dụng ít nhất 2500 m. Với thiết bị hiện có (trạm địa chấn sercel XL428, 210 kênh thu) tập thể tác giả đã nghiên cứu lựa chọn được tham số thu nổ địa chấn 2D phục vụ tốt nhiệm vụ đánh giá tiềm năng tài nguyên than ở đồng bằng sông Hồng.

Bài 4: HIỆU QUẢ TỔ HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊA VẬT LÝ TÌM KIẾM KHOÁNG SẢN KIM LOẠI DƯỚI SÂU ÁP DỤNG TẠI MỎ SẮT THẠCH KHÊ, HÀ TĨNH

NGUYỄN VĂN SỬU1, KIỀU HUỲNH PHƯƠNG1, NGUYỄN DUY TIÊU1,

TRƯƠNG CÔNG ÁNH1, PHẠM VĂN HÙNG1, VÕ THANH SƠN2

1Liên đoàn Vật lý Địa chất, Km9, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

2Viện Vật lý Địa cầu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hoàng Quốc Việt, Hà Nội

Tóm tắt: Cho đến nay, do nhu cầu phục vụ các ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp nặng nên nền công nghiệp khai khoáng đã và đang phát triển mạnh mẽ, dẫn đến nguồn tài nguyên khoáng sản ngày một cạn kiệt. Các mỏ kim loại nằm lộ thiên hoặc nằm khá nông (< 200 m dưới mặt đất) đều đang được khai thác hoặc đã khai thác hết. Công tác điều tra, tìm kiếm, phát hiện nguồn tài nguyên khoáng sản nằm sâu dưới lòng đất đang là vấn đề hết sức cần thiết đối với đất nước ta trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Công tác đo thử nghiệm tổ hợp phương pháp địa vật lý hiện đại tại phía nam mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh đã xác định được phần kéo dài của thân quặng sắt ở độ sâu hơn 500-700 m.

Kết quả bước đầu cho thấy hiệu quả của việc áp dụng tổ hợp phương pháp địa vật lý hiện đại để tìm kiếm, đánh giá khoáng sản dưới sâu.

Bài 5: MỘT SỐ KẾT QUẢ PHƯƠNG PHÁP ĐỊA VẬT LÝ LỖ KHOAN TRONG THĂM DÒ MUỐI MỎ KALI

NGUYỄN TRƯỜNG LƯU1, KIỀU HUỲNH PHƯƠNG1, NGUYỄN VÂN SANG1,
NGUYỄN THẾ HÙNG1, NGUYỄN TRẦN TÂN2, NGUYỄN TUẤN TRUNG3

1Liên đoàn Vật lý Địa chất, Km9, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội;
 
2Hội KHKT Địa Vật lý Việt Nam, 3Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội

Tóm tắt: Hiện nay trên thế giới áp dụng nhiều phương pháp địa vật lý tìm kiếm, thăm dò muối mỏ. Bài báo này đề cập đến một số phương pháp địa vật lý thăm dò muối mỏ kali, trong đó có phương pháp xử lý số liệu để tính hàm lượng muối thông qua số liệu đo địa vật lý.

Bài 6: NGHIÊN CỨU BÀI TOÁN THUẬN BẰNG HÀM TỔNG HIỆU ĐỂ TÌM HÌNH DẠNG THỰC TẾ CỦA VẬT THỂ GÂY DỊ THƯỜNG TỪ

TRẦN THANH RĨ1, ĐỖ VĂN TIẾP2

1Hội KHKT Địa Vật lý Việt Nam,
 2Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Bắc, Long Biên, Hà Nội

Tóm tắt: Tác giả đã nghiên cứu bài toán thuận trong thăm dò từ bằng hàm tổng hiệu, đã đưa ra được những hàm cụ thể cho các mô hình và đã trình bày phương pháp tìm hình dạng vật thể gây từ qua hàm tổng hiệu

Bài 7: XÁC ĐỊNH KHU VỰC CÓ MỨC CHIẾU XẠ TỰ NHIÊN CAO CÓ KHẢ NĂNG GÂY HẠI CHO CON NGƯỜI TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM (PHẦN ĐẤT LIỀN)

LA THANH LONG1, TRẦN ANH TUẤN2, HOÀNG THỊ HÀ2, NGUYỄN VĂN NAM1

1Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, 6 Phạm Ngũ Lão, Hoàn Kiếm, Hà Nội
2Liên đoàn Vật lý Địa chất, Km9, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Để khai thác có cơ sở, hiệu quả các số liệu đo phóng xạ đã có từ gần 60 năm qua, phục vụ phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường bền vững, một loạt đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ thuộc chương trình TNMT.03/10-15 đã được tổ chức thực hiện.

Trên cơ sở các kết quả đó, các số liệu đo phóng xạ tự nhiên các loại đã được khai thác, sử dụng xác định các khu vực có mức chiếu xạ tự nhiên cao có khả năng gây hại cho con người trên lãnh thổ Việt Nam (phần đất liền).

Bài 8: MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐO SÂU ĐIỆN VÙNG TRŨNG AN NHƠN, BÌNH ĐỊNH

NGUYỄN ĐỨC QUẬN1, NGUYỄN VĂN SINH1, HOÀNG ANH TUẤN2

1Liên đoàn Địa chất Trung Trung Bộ, 613 Nguyễn Thái Học, Quy Nhơn, Bình Định
2Trung tâm Nghiên cứu tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí, Hà Nội

Tóm tắt: Trong lỗ khoan quan trắc thủy văn ở vùng trũng An Nhơn, Bình Định, đã bắt gặp tập than nâu nằm trong trầm tích Neogen của Hệ tầng Sông Ba. Dấu hiệu này cần được làm sáng tỏ về triển vọng than cũng như tiềm năng khí than ở đây. Phương pháp đo sâu điện trở được áp dụng nhằm dự báo diện phân bố các vỉa than, xác định bề dày tầng trầm tích và đặc điểm cấu trúc móng Kainozoi đã cung cấp những thông tin có cơ sở khoa học và đáng tin cậy. Kết quả phân tích và tổng hợp tài liệu đã dự đoán ở trũng An Nhơn - Bình Định  tồn tại tập than nâu, phân bố trên diên tích 7,7 km2, tài nguyên dự báo cấp 333 là 87,4 triệu tấn.

Bài 9: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ XÂY DỰNG BỘ BẢN ĐỒ MÔI TRƯỜNG PHÓNG XẠ TỰ NHIÊN

TRẦN ANH TUẤN1, TÔ VĂN HÒA1, LA THANH LONG2
NGUYỄN THẾ MINH1, QUÁCH VĂN HIỂU1,  HOÀNG THỊ HÀ1

1Liên đoàn Vật lý Địa chất, 2Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam

Tóm tắt: Đề tài “Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ thành lập bộ bản đồ môi trường phóng xạ tự nhiên. Áp dụng thử nghiệm trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” Mã số TNMT.03.38 đã thực hiện việc nhiên cứu các cơ sở phục vụ xây dựng bộ bản đồ môi trường phóng xạ tự nhiên. Trên cơ sở nghiên cứu do đề tài thực hiện trong các năm 2013-2014 đã làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản của bộ bản đồ môi trường phóng xạ tự nhiên Việt Nam: các loại bản đồ thành phần, các tỷ lệ bản đồ v.v…

 

Bài 10: NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG, MỨC ĐỘ PHÂN TÍCH CÁC NHÂN PHÓNG XẠ MÔI TRƯỜNG TRÊN HỆ PHỔ KẾ GAMMA PHÂN GIẢI CAO (ORTEC GEM 30)

NGUYỄN VĂN NAM1, NGUYỄN VĂN PHÓNG2,
NGUYỄN THỊ HẰNG2, NGUYỄN HẢI MINH2, ĐOÀN VĂN TAM2

1Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Số 6, Phạm Ngũ Lão, Hà Nội
2Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm, Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội

Tóm tắt: Với hệ phổ kế gamma phân giải cao ORTEC GEM 30, sử dụng Detector siêu tinh khiết Ge (detector siêu tinh khiết) loại 83 cm3, đặt trong nhà chì giảm phông, độ phân giải 1,82 KeV ở năng lượng 1332 KeV của 60Co. Thiết bị có thể xác định định lượng hầu hết các nhân phóng xạ trong môi trường, đặc biệt thiết bị này còn có khả năng xác định hàm lượng 238U thông qua đồng vị 234Th từ đỉnh năng lượng 63,29 KeV, mà các thiết bị cùng loại ở các thế hệ trước không xác định được. Bài viết này giới thiệu khả năng phân tích định lượng các đồng vị phóng xạ trên hệ phổ kế đối với các mẫu môi trường.

Bài 11: NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH PHÔNG ĐỊA PHƯƠNG VÀ TÍNH LIỀU GIA TĂNG DO HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ MỎ ĐẤT HIẾM NẬM XE, PHONG THỔ, LAI CHÂU

NGUYỄN THÁI SƠN1, LÊ KHÁNH PHỒN2, NGUYỄN VĂN NAM3,
LA THANH LONG3, DƯƠNG VĂN HÀO3, ĐOÀN VĂN TAM1

1Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm, Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội
 2Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội
 3Tổng Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, 6 Phạm Ngũ Lão, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Tóm tắt: Bài báo tổng quan đặc điểm khoáng sản, tình hình thăm dò các mỏ đất hiếm chứa phóng xạ Nam Nậm Xe, Bắc Nậm Xe. Các tác giả đã đưa ra phương pháp tính liều gia tăng do các hoạt động thăm dò mỏ đất hiếm Nam Nậm Xe, Bắc Nậm Xe dựa trên cơ sở xác định giá trị đặc trưng liều chiếu xạ trước thăm dò (phông bức xạ tự nhiên địa phương) và giá trị đặc trưng liều chiếu xạ sau thăm dò. Do hoạt động thăm dò, liều chiếu gia tăng tại mỏ Bắc Nậm Xe là 3,29 mSv/năm, mỏ Nam Nậm Xe là 2,63 mSv/năm, đều vượt tiêu chuẩn an toàn cho phép đối với dân chúng. Bởi vậy các tác giả đã đưa ra kiến nghị về các hành động can thiệp nhằm làm giảm sự gia tăng liều chiếu xạ, giảm thiểu ảnh hưởng có hại của ô nhiễm phóng xạ đối với môi trường và sức khỏe người dân sống tại các mỏ Nam Nậm Xe, Bắc Nậm Xe đã được tiến hành thăm dò, tương lai có thể được đưa vào khai thác, chế biến.

Bài 12: PHÁT HIỆN MỚI ĐIỂM DỊ THƯỜNG PHÓNG XẠ MÔI TRƯỜNG CHÂU QUẾ THƯỢNG, YÊN BÁI

NGUYỄN THẾ MINH, QUÁCH VĂN HIỂU, LÊ NGỌC HÙNG, HÀ ĐĂNG VIỆT,
BÙI VĂN CẦM, NGUYỄN VĂN HÀNH, NGUYỄN KHÁNH TIỀM

Liên đoàn Vật lý Địa chất, Km9, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Trong quá trình thi công Dự án “Đánh giá chi tiết các diện tích ô nhiễm phóng xạ tự nhiên vùng Tây Bắc Việt Nam để thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp lập kế hoạch và triển khai thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm giảm đến mức thấp nhất tác hại đối với con người”đã phát hiện mới một số dị thường phóng xạ môi trường. Trong số đó, dị thường phóng xạ môi trường Châu Quế Thượng phát hiện trên vị trí, mà theo tài liệu trước đây vốn có giá trị phóng xạ trung bình thấp (<25 μR/h), được san gạt phục vụ tái định cư cho xây dựng đường cao tốc Lào Cai - Nội Bài.

 

Bài 13: MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐỀ TÀI KHCN “NGHIÊN CỨU XỬ LÝ GIẢM THIỂU NHIỄU TRONG TÀI LIỆU ĐỊA CHẤN NÔNG PHÂN GIẢI CAO NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHỤC VỤ CÔNG TÁC ĐIỀU TRA KHẢO SÁT ĐỊA CHẤT, KHOÁNG SẢN BIỂN” MÃ SỐ: TNMT.06.24

          VŨ BÁ DŨNG, NGÔ THANH THỦY, NGUYỄN SỸ PHƯƠNG
Trung tâm Địa chất và Khoáng sản Biển, 125 Trung Kính, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt: Với yêu cầu đòi hỏi chất lượng tài liệu ngày càng cao để phục vụ cho các mục tiêu khác nhau, việc xử lý nâng cao chất lượng tài liệu ngày càng trở nên quan trọng. Để nâng cao chất lượng tài liệu địa chấn nông phân giải cao (ĐCNPGC), năm 2013, Trung tâm Địa chất và Khoáng sản Biển thực hiện Đề tài KHCN mã số TNMT.06.24. Trong quá trình thực hiện đề tài, tập thể tác giả đã sử dụng các phần mềm xử lý RadExPro và Geosuite Allworks để hạn chế các loại nhiễu trên băng địa chấn nông phân giải cao và đã đạt được một số kết quả nhất định.

 Phần mềm RadExPro và Geosuite Allworks có các modul xử lý địa chấn cơ bản, bên cạnh đó có thể sử dụng phần mềm để minh giải các băng địa chấn sau khi xử lý. Các băng địa chấn sau khi được xử lý bằng phần mềm sẽ thu được hình ảnh rõ nét hơn, các đặc trưng phản xạ rõ ràng hơn. Việc ứng dụng các phần mềm xử lý, minh giải chuyên dụng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả, tăng độ tin cậy của tài liệu địa chấn nông phân giải cao.

Bài 14: KẾT QUẢ ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP SONAR QUÉT SƯỜN TRONG ĐIỀU TRA ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN BIỂN

NGÔ THANH THUỶ, NGUYỄN QUỐC HUY, TRẦN TRỌNG DẦN, NGUYỄN XUÂN NAM
Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển, 125 Trung Kính, Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt: Phương pháp sonar quét sườn sử dụng việc phát các sóng âm với tần số cao (100 – 500 kHz và lớn hơn) và thu nhận sóng âm phản hồi từ bề mặt địa hình đáy biển, các đối tượng nằm trên mặt đáy biển. Thông tin ghi nhận được thể hiện thành hình ảnh bề mặt đáy biển với độ chính xác cao.

Đo vẽ sonar quét sườn được áp dụng trong nhiều lĩnh vực: nghiên cứu đại dương và các vùng nước sâu trong lục địa; nghiên cứu đặc điểm địa hình đáy biển; đặc điểm trầm tích trên đáy biển (thành phần thạch học, kích thước độ hạt,…); xây dựng công trình biển; tìm kiếm các vật thể bị chìm đắm...

Từ năm 2006 đến nay, Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển đã tiến hành các khảo sát sonar quét sườn bằng thiết bị CM-2 (Hãng C-Max, Anh) trong khuôn khổ các đề án điều tra cơ bản về địa chất và khoáng sản biển ở các tỷ lệ 1:50.000, 1:100.000 (từ 0-30m nước) và tỷ lệ 1:500.000 (từ 30-100m nước).

Kết quả sau 8 năm áp dụng đã khẳng định tính hiệu quả của phương pháp trong nghiên cứu địa chất khoáng sản biển.

Bài 15: LỰA CHỌN TỔ HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊA VẬT LÝ TỐI ƯU TRONG CÔNG TÁC ĐIỀU TRA VÀ ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN NƯỚC DƯỚI ĐẤT

VŨ QUANG THÀNH

Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, 85 Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội

Tóm tắt: Việc lựa chọn tổ hợp các phương pháp địa vật lý tối ưu đóng vai trò rất quan trọng trong công tác điều tra và đánh giá tài nguyên nước dưới đất, giúp cung cấp thông tin cho việc lựa chọn vị trí khoan đánh giá tài nguyên nước dưới đất cũng như xác định sự phân bố của các tầng chứa nước, cách nước cũng như hiện trạng nhiễm mặn tầng chứa nước. Trong bài báo này, tác giả đề cập tới một số tổ hợp các phương pháp địa vật lý được sử dụng trong quá trình điều tra, đánh giá tài nguyên nước trong các đối tượng địa chất thủy văn khác nhau trên cả nước mà Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia đã thực hiện đạt kết quả rất tốt trong những năm gần đây. Trên cơ sở đó, tác giả cũng nêu ra một số nguyên tắc lựa chọn tổ hợp phương pháp địa vật lý tối ưu đối với một số đối tượng cụ thể đã đáp ứng được các nhiệm vụ đặt ra trong điều tra tài nguyên nước dưới đất.

Bài 16: MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐO SÂU ĐIỆN DÒNG ĐIỆN MỘT CHIỀU VÀ XOAY CHIỀU THEO MÔ HÌNH HAI CHIỀU (2D) TRONG NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRA KHOÁNG SẢN, NƯỚC NGẦM VÀ TAI BIẾN ĐỊA CHẤT Ở VIỆT NAM

TĂNG ĐÌNH NAM, NGUYỄN TIẾN PHONG

Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Km9, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Áp dụng phương pháp đo sâu điện theo mô hình một chiều (1D) trong điều tra khoáng sản ở nước ta trong thời gian qua đã đạt được một số kết quả đáng kể. Tuy vậy vẫn còn một số hạn chế, do phương pháp được xây dựng trên cơ sơ giả thiết các lớp địa điện trong mặt cắt là song song và nằm ngang, có sự đồng nhất ngang về tính dẫn điện và địa hình trên mặt là bằng phẳng, trong thực tế điều này không thoả mãn bài toán gây sai lệch giữa kết quả lý thuyết và thực tế.

Để khắc phục những tồn tại nêu trên, chúng tôi đã nghiên cứu áp dụng phương pháp đo sâu điện theo mô hình 2D trong điều tra khoáng sản, nước ngầm và tai biến địa chất trên nhiều vùng của lãnh thổ và đã đạt hiệu quả cao. Bài báo sẽ giới thiệu một số kết quả nghiên cứu ở một số vùng trên lãnh thổ Việt Nam.

Bài 17: CÔNG TÁC KIỂM TRA MẶT ĐẤT CÁC DỊ THƯỜNG TỪ VÀ TRỌNG LỰC

NGUYỄN TRƯỜNG LƯU, NGUYỄN THẾ HÙNG
Liên đoàn Vật lý Địa chất, Km9, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Cho đến nay, qua xử lý phân tích tài liệu bay đo từ và đo trọng lực mặt đất đã xác định nhiều dị thường từ-trọng lực phản ánh đối tượng gây dị thường nằm sâu, có thể liên quan triển vọng khoáng sản ẩn sâu.

Một số dị thường như vậy đã được kiểm tra mặt đất và đã phát hiện khoáng sản, một số đã trở thành mỏ.

Bài báo đặt vấn đề về sự cần thiết tiến hành kiểm tra mặt đất các dị thường kiểu "từ-trọng lực" và đề xuất trình tự tiến hành các phương pháp xử lý tổng hợp, cũng như hệ phương pháp địa chất, địa vật lý áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả khai thác tài liệu địa vật lý tìm kiếm, đánh giá khoáng sản dưới sâu.

Bài 18: CÔNG TÁC KIỂM TRA MẶT ĐẤT CÁC DỊ THƯỜNG TỪ VÀ TRỌNG LỰC

NGUYỄN TRƯỜNG LƯU, NGUYỄN THẾ HÙNG
Liên đoàn Vật lý Địa chất, Km9, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Cho đến nay, qua xử lý phân tích tài liệu bay đo từ và đo trọng lực mặt đất đã xác định nhiều dị thường từ-trọng lực phản ánh đối tượng gây dị thường nằm sâu, có thể liên quan triển vọng khoáng sản ẩn sâu.

Một số dị thường như vậy đã được kiểm tra mặt đất và đã phát hiện khoáng sản, một số đã trở thành mỏ.

Bài báo đặt vấn đề về sự cần thiết tiến hành kiểm tra mặt đất các dị thường kiểu "từ-trọng lực" và đề xuất trình tự tiến hành các phương pháp xử lý tổng hợp, cũng như hệ phương pháp địa chất, địa vật lý áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả khai thác tài liệu địa vật lý tìm kiếm, đánh giá khoáng sản dưới sâu.

Bài 19: KẾT QUẢ PHƯƠNG PHÁP SIÊU ÂM LỖ KHOAN TẠI ĐÈO CẢ, TỈNH KHÁNH HÒA

NGUYỄN KHẮC ĐỨC1, NGUYỄN TRƯỜNG LƯU1, KIỀU HUỲNH PHƯƠNG1,
NGUYỄN THẾ HÙNG1, NGUYỄN TUẤN TRUNG2

1Liên đoàn Vật lý Địa chất, Km9, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
2Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội

Tóm tắt: Ở nước ta trong nhiều năm qua, việc áp dụng các phương pháp địa vật lý giếng khoan đã có những đóng góp đáng kể trong công tác điều tra địa chất, tìm kiếm thăm dò khoáng sản nói chung và trong khảo sát địa chất công trình nói riêng. Bài báo đề cập đến phương pháp siêu âm giếng khoan (Acoustic Borehole Televiewer) trong khảo sát địa chất công trình hầm Đèo Cả tỉnh Khánh Hòa bằng bộ máy mới với công nghệ cao.

Bài 20: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO MÁY THĂM DÒ ĐIỆN MỘT CHIỀU

NGUYỄN TỬ ÁNH

Hội Khoa học kỹ thuật Địa vật lý Việt Nam

Tóm tắt: Bài báo trình bày các kết quả nghiên cứu chế tạo máy thăm dò điện một chiều ở Việt Nam từ năm 1984 đến nay. Những người làm máy địa vật lý ở nước ta đã có nhiều cố gắng theo sát trình độ công nghệ điện tử để chế tạo những máy thăm dò điện một chiều phục vụ công tác địa vật lý.


Bài 21: GIỚI THIỆU TRẠM MÁY ĐO ĐỊA CHẤN CỦA HÃNG SERCEL VÀ TRẠM ĐO ĐỊA VẬT LÝ LỖ KHOAN CỦA HÃNG ROBERTSON

NGUYỄN TUẤN NĂM, HOÀNG HẢI HÀ,
NGUYỄN VÂN SANG, NGUYỄN KHẮC ĐỨC, BÙI MINH THÀNH

Liên đoàn Vật lý Địa chất, Km9, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Bài báo giới thiệu hai thiết bị địa vật lý hiện đại đã áp dụng giải quyết các nhiệm vụ phức tạp ở độ sâu lớn, như tìm kiếm than ở đồng bằng Sông Hồng. Đó là trạm địa chấn E428XL của hãng Sercel quản lý 400 kênh đo (có khả năng mở rộng đến 1000 kênh), hiện Liên đoàn Vật lý Địa chất đang khai thác 210 kênh, đạt chiều dài hơn 3 km trên 1 chặng đo. Trạm đo carota RG Micrologger 2 của hãng Robertson với hệ thống ống đo tổ hợp cho phép xác định các tham số đất đá và trạng thái giếng khoan.

Bài 22: NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KHẢO SÁT TỪ, PHỔ GAMMA HÀNG KHÔNG

 KIỀU TRUNG THỦY, HỒ HẢI, VŨ VĂN DANH

Liên đoàn Vật lý Địa chất, Km9, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Phương pháp từ, phổ gamma hàng không đã được áp dụng từ lâu ở Việt Nam, phục vụ điều tra cơ bản địa chất và tìm kiếm khoáng sản. Hiệu quả của phương pháp đã được khẳng định, tuy nhiên vẫn còn những hạn chế nhất định. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả địa chất của phương pháp, cần thiết phải đảm bảo tỷ lệ bay khảo sát thích hợp trong công tác tìm kiếm khoáng sản, đầu tư hệ thống thiết bị từ phổ gamma hàng không hiện đại và tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra mặt đất các dị thường từ, phổ gamma hàng không đã phát hiện.

Bài 23: ÁP DỤNG QUY LUẬT PHÂN BỐ CÁC GIÁ TRỊ CỰC TRỊ ĐỂ NGHIÊN CỨU TÍNH ĐỊA CHẤN KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

VŨ THỊ HOÃN1, NGÔ THỊ LƯ1, M.V. RODKIN2, TRẦN VIỆT PHƯƠNG1

1Viện Vật lý Địa cầu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,
18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội

2Viện Lý thuyết dự báo và Toán địa vật lý, Viện Hàn lâm Khoa học Nga

Tóm tắt: Phân bố giá trị cực trị tổng quát (GEV) được sử dụng rộng rãi trong việc mô hình hóa và xác định các giá trị cực trị. Trong bài báo này chúng tôi xác định các tham số của hàm GEV cho các trận động đất khu vực Đông Nam Á. Giá trị ngẫu nhiên của Mmax(τ) được mô tả bởi hàm quantile Qq(t) của nó. Hàm này được sử dụng để đánh giá magnitude cực đại (Mmax) cho khu vực ĐNA giai đoạn 1278-2014.

Tính địa chấn khu vực ĐNA giai đoạn này được đặc trưng bởi mức đại diện động đất M = 4,0. Hoạt động động đất tích cực thể hiện qua số lượng động đất tăng mạnh trong hai giai đoạn, 2001-2004 và 2008-2013. Magnitude động đất cực đại biến đổi rõ nét qua các giai đoạn khác nhau thể hiện tính chu kỳ của chế độ hoạt động động đất khu vực này. Giai đoạn hoạt động tích cực nhất của chế độ địa chấn là 2004-2013(Mmax = 8,8). Giai đoạn tiếp sau (2013-2023) được dự báo là giai đoạn ổn định hơn với M max dự báo= 7,95 ±0,1 với xác suất 98 %.

 

Bài 24: TỐC ĐỘ BIẾN DẠNG THẲNG ĐỨNG VỎ TRÁI ĐẤT KHU VỰC SÔNG CẢ - RÀO NẬY TRONG TÂN KIẾN TẠO

NGÔ GIA THẮNG1,  PHÙNG THỊ THU HẰNG2, CAO ĐÌNH TRIỀU2

1Hội Kiến tạo Việt Nam; 2Viện Vật lý Địa cầu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,
 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt: Phân tích các dấu hiệu về trầm tích cho thấy khu vực Sông Cả - Rào Nậy đã trải qua ít nhất 3 thời đoạn có các biểu hiện phát triển Tân kiến tạo khác nhau. Đó là: 1/ Thời đoạn nâng dạng vòm ít phân dị trong Miocen muộn - Pliocen sớm, 2/ Hoạt động nâng Tân kiến tạo yếu so với các quá trình ngoại sinh, hình thành địa hình bán bình nguyên trong Pliocen muộn; 3/ Nâng tạo núi phân dị mạnh kiểu khối tảng chủ yếu trong Đệ Tứ (đến Hiện đại).

Trong Holocen đến Hiện nay dường như tốc độ biến dạng có sự gia tăng ở một số nơi: các khu vực đỉnh (với các dấu hiệu về xâm thực sâu của các sông suối cấp 1, 2, gia tăng quá trình sườn do tăng độ dốc…), phát triển các tích tụ kiểu lũ tích dọc theo một số triền núi (kể cả một số vùng núi có độ cao không lớn như phía tây Diễn Châu, trũng Kỳ Sơn…). Những dấu hiệu trên minh chứng cho vận động nâng tích cực hiện nay của cánh phía bắc đới đứt gãy Sông Cả (đây cũng là một nếp lồi cổ).

Bài 25: XÁC ĐỊNH TRẠNG THÁI CỔ ỨNG SUẤT VÀ ỨNG SUẤT HIỆN ĐẠI KHU VỰC VEN BIỂN BẮC TRUNG BỘ THEO PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KHE NỨT NỘI LỚP

NGUYỄN HỮU TUYÊN1, CHU VĂN NGỢI2, CAO ĐÌNH TRIỀU1
NGÔ THỊ LƯ1, LÊ VĂN DŨNG1, MAI XUÂN BÁCH1,

1Viện Vật lý Địa cầu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội
2Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại Học Quốc Gia Hà Nội

 Tóm tắt: Bài báo trình bày các kết quả nghiên cứu về phân bố khe nứt trong đất đá có tuổi khác nhau, phục vụ cho việc xác lập trạng thái cổ ứng suất  và ứng suất Hiện đại của vỏ Trái đất khu vực Bắc và Trung Trung Bộ Việt Nam. Trên cơ sở sử dụng các chương trình tính toán chuyên dụng, đã phân tích chi tiết và xử lý các số liệu về khe nứt nội lớp trong các đất đá có tuổi khác nhau, xây dựng các biểu đồ lập thể phân bố định hướng các khe nứt, biểu đồ hoa hồng về hướng phương vị của các hệ thống khe nứt và tái tạo trạng thái cổ ứng suất ở giai đoạn thành tạo chúng. Trên cơ sở đó, xác định các đặc điểm phân bố khe nứt và làm sáng tỏ một số biểu hiện địa động lực và quá trình biến đổi ứng suất kiến tạo vỏ Trái đất khu vực Bắc và Trung Trung Bộ Việt Nam.

Bài 26: PHÂN KHỐI CẤU TRÚC DỰA TRÊN CÁC ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC TÂN KIẾN TẠO VÀ KIẾN TẠO HIỆN ĐẠI KHU VỰC SÔNG CẢ - RÀO NẬY

PHÙNG THỊ THU HẰNG1, NGÔ GIA THẮNG2, CAO ĐÌNH TRIỀU1

1Viện Vật lý Địa cầu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội
2Hội Kiến tạo Việt Nam

Tóm tắt: Hoạt động kiến tạo hiện đại tích cực ở khu vực Sông Cả - Rào Nậy làm cho khu vực có sự phân khối cấu trúc phức tạp. Vận động nâng diễn ra mạnh ở khu vực phía tây  đới Bắc Sông Cả và lân cận tạo nên cấu trúc địa hình dạng vòm nâng - khối tảng. Quá trình trượt bằng xiết ép và hoạt động sụt tương đối lại chủ yếu xảy ra ở phía đông nam thuộc đới Nam Sông Cả với đặc trưng là các cấu trúc địa hình dạng địa hào - địa lũy phát triển theo phương tây bắc - đông nam. Dựa vào các biểu hiện kiến tạo hiện đại trên ảnh viễn thám và các sơ đồ địa mạo - kiến tạo, đặc điểm thạch kiến tạo và cổ kiến tạo khu vực Sông Cả - Rào Nậy có thể phân chia thành hai cấu trúc bậc 1 có hoạt tính kiến tạo khác nhau: Đới nâng tạo núi phân dị Bắc Sông Cả và Đới nâng tạo núi phân dị Nam Sông Cả. Trong đó, đới đứt gãy Sông Cả chính là ranh giới phân chia 2 đới cấu trúc. Các cấu trúc bậc cao hơn tiếp tục được phân chia như sau:

- Đới nâng tạo núi phân dị Bắc Sông Cả được chia thành các khối: khối phân dị yếu bị lôi kéo vào sụt lún Thanh Hóa, khối nâng dạng vòm - khối tảng Phu Hoạt, khối nâng phân dị Sông Cả, khối nâng yếu phân dị Sốp Cộp - Đồng Trầu, khối sụt dạng địa hào Đô Lương.

- Đới nâng tạo núi phân dị Nam Sông Cả được chia thành các khối: khối nâng dạng vồng – địa lũy phân dị Hương Sơn, khối sụt dạng bậc Con Cuông - Hà Tĩnh, khối nâng địa lũy Hoành Sơn, khối nâng địa lũy Hương Khê - Tuyên Hóa, khối nâng dạng vòm - khối tảng Tây Rào Nậy, khối nâng dạng khối tảng Xuân Sơn, khối nâng vòm phân dị Long Đại.

Bài 27: BIỂU HIỆN CỦA HỐ VA CHẠM THIÊN THẠCH TRÊN THỀM LỤC ĐỊA VIỆT NAM VÀ CÁC VẤN ĐỀ ĐỊA CHẤT LIÊN QUAN

DƯƠNG QUỐC HƯNG, PHAN ĐÔNG PHA, NGUYỄN VĂN ĐIỆP, MAI ĐỨC ĐÔNG

Viện Địa chất và Địa vật lý biển, Viên Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,
Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt: Hố va chạm thiên thạch (meteorite impact crater) là những di chỉ còn sót lại từ những vụ va chạm giữa các vật thể ngoài vũ trụ với bề mặt Trái đất. Hiện tượng này đã gây ra những biến động lớn về địa chất, môi trường và khí hậu ở quy mô khu vực và thậm chí trên toàn cầu, làm thay đổi các điều kiện hình thành, tích tụ hoặc phá hủy các nguồn khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên. Nghiên cứu này đề cập đến một cấu tạo dạng lòng chảo có vành ngoài tôn cao, rộng khoảng 3 km, sâu 120 m bị chôn vùi trên thềm lục địa Việt Nam, được phát hiện theo tài liệu địa chấn nông phân giải cao. Các kết quả luận giải chỉ ra khả năng tồn tại của một hố thiên thạch và từ đó nêu ra một số nhận định liên quan đến các hiện tượng địa chất đặc trưng trong khu vực này.

Bài 28: ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DỊCH CHUYỂN DỜI PHA NỘI SUY TUYẾN TÍNH VÀO XỬ LÝ TÀI LIỆU RADAR XUYÊN ĐẤT ĐỂ XÁC ĐỊNH KÍCH THƯỚC VÀ VỊ TRÍ DỊ VẬT

LÊ HOÀNG KIM, NGUYỄN THÀNH VẤN, ĐẶNG HOÀI TRUNG

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Tp.HCM, Nguyễn Văn Cừ, Q.5, Tp. HCM

Tóm tắt: Dịch chuyển dời pha nội suy tuyến tính (Phase Shift Plus Interpolation migration - PSPI migration) là một trong những phương pháp được sử dụng rất phổ biến, không chỉ trong xử lý dữ liệu địa chấn, mà còn trong xử lý tài liệu Radar xuyên đất (GPR). Nhờ vào sự tương ứng trong lý thuyết lan truyền sóng cơ học và sóng điện từ mà các phương pháp dịch chuyển địa chấn có thể được biến đổi phù hợp để áp dụng vào xử lý tài liệu GPR như một công cụ tính vận tốc truyền sóng của môi trường, ước lượng độ sâu, hình dạng và kích thước dị vật. Có hai loại vận tốc thường được dùng trong dịch chuyển: vận tốc căn quân phương (RMS) – dùng trong các loại dịch chuyển F-K, dịch chuyển sai phân hữu hạn, dịch chuyển Kirchhoff, và vận tốc khoảng (interval) được dùng trong dịch chuyển PSPI. Vận tốc RMS là vận tốc trung bình được tính từ vận tốc thực của các phân lớp nằm bên trên điểm khảo sát, trong khi vận tốc khoảng chỉ phản ánh vận tốc của riêng phân lớp chứa điểm khảo sát. Bài viết này sẽ trình bày cách thức áp dụng dịch chuyển PSPI vào xử lý dữ liệu GPR, có kèm theo kết quả xử lý dữ liệu mô hình và dữ liệu thực tế. Bên cạnh đó, việc kết hợp sử dụng hai loại vận tốc RMS và vận tốc khoảng vào các bước xử lý cũng sẽ được đưa ra phân tích để thu được kết quả tốt nhất.

Bài 29: ĐẶC ĐIỂM PHÂN DỊ VỎ TRÁI ĐẤT BỂ PHÚ KHÁNH VÀ VÙNG KẾ CẬN

CAO ĐÌNH TRIỀU1, NGUYỄN DU HƯNG2, ĐÀO VIẾT CẢNH3
1
Viện Địa vật lý ứng dụng, 2PVEP-POD, 3PVEP-ITC

Tóm tắt: Phương pháp phân tích kết hợp tài liệu trọng lực và từ vệ tinh được sử dụng trong nghiên cứu đặc điểm phân dị vỏ Trái đất bể Phú Khánh và vùng kế cận.  Kết quả nghiên cứu cho thấy:

1/ Quá trình hình thành và phát triển bể Phú Khánh gắn liền với sụt lún mạnh mẽ của các đứt gãy thuận thuộc hệ đứt gãy Đông Bắc - Tây Nam trong Kainozoi.

2/ Độ sâu tới mặt Moho bể Phú Khánh chỉ nằm ở độ sâu khoảng 18-21 km và có xu thế nâng lên ở phần trung tâm.

3/ Vỏ Trái đất bể Phú Khánh là loại vỏ chuyển tiếp căng giãn. Giá trị mật độ trung bình khoảng 2,70 g/cm3, tương ứng với vận tốc truyền sóng P là 6,00 km/s.

Bài 30: ĐẶC ĐIỂM XÓI LỞ CÁC BÃI VÙNG TRIỀU Ở THỪA THIÊN - HUẾ VÀ VAI TRÒ CỦA YẾU TỐ KHÍ HẬU

NGUYẾN TIẾN HẢI, NGUYỄN HỒNG LÂN

Viện Địa chất và Địa vật lý biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,
18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt: Các bãi vùng triều hiện nay thuộc Thừa Thiên - Huế đang có nhiều biến động do tác động của tự nhiên. Biến động của các bãi vùng triều được  đặc trưng bởi các đặc điểm sau:   

+ Hoạt động xói lở là hoạt động chính, ưu thế gây thay đổi các bãi vùng triều.

+ Hoạt động xói lở mạnh nhất dưới tác động của sóng biển trong mùa gió Đông Bắc (từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau) và do giông bão (từ tháng 8 đến tháng 10). Tương ứng với hai vị trí bị xói lở mạnh nhất ở bờ biển là phần bãi trên triều (cao hơn mực nước biển 1-1,5 m) và phần chân dãy cồn cát tiền tiêu.

+ Gió mùa Đông Bắc, bão và độ dốc của các bãi triều đóng vai trò chính trong hoạt động xói lở. 

+ Xu thế hoạt động xói lở bờ ngày càng gia tăng do biến đổi khí hậu toàn cầu và mực nước biển dâng.

Bài 31: ÁP DỤNG TỔ HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH THỐNG KÊ VẬT LÝ KIẾN TẠO ĐỂ DỰ BÁO ĐỘNG ĐẤT LÃNH THỔ VIỆT NAM VÀ LÂN CẬN

NGÔ THỊ LƯ, TRẦN VIỆT PHƯƠNG,
NGUYỄN QUANG, VŨ THỊ HOÃN, PHÙNG THỊ THU HẰNG

Viện Vật lý Địa cầu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,
18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt: Trên cơ sở áp dụng tổ hợp các phương pháp mô hình thống kê và vật lý kiến tạo, các tác giả đã tiến hành thử nghiệm dự báo động đất đối với lãnh thổ Việt Nam và các vùng lân cận trong hai trường hợp khác nhau. Các kết quả nhận được cho thấy: các trận động đất được dự báo trong cả hai trường hợp chủ yếu phân bố ở khu vực Tây Bắc Việt Nam và tập trung theo một số các đới đứt gãy lớn như Lai Châu - Điện Biên, Mường Tè, Nậm Khum, Sông Đà - Sơn La và Sông Mã, hoặc gần các nút giao của các đới đứt gãy trên. Từ các kết quả này, các tác giả đã thành lập các bản đồ dự báo động đất theo tổ hợp các phương pháp nghiên cứu đối với khu vực nghiên cứu và đã phát hiện một loạt các khu vực có độ nguy hiểm địa chấn cao (Mmax ≥ 6,0) tại các khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam.

Bài 32: LUẬN GIẢI VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔ HÌNH CẤU TRÚC VẬN TỐC SÓNG P CỦA MANTI VÀ HOẠT TÍNH ĐỊA ĐỘNG LỰC HIỆN ĐẠI THẠCH QUYỂN ĐÔNG NAM Á

CAO ĐÌNH TRIỀU1, LÊ VĂN DŨNG1,
MAI XUÂN BÁCH1, CAO ĐÌNH TRỌNG1, ĐÀO VIẾT CẢNH2
1Viện Vật lý Địa cầu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,
18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội; 2PVEP-ITC

Tóm tắt: Trong khuôn khổ bài báo này, các tác giả bước đầu luận giải về mối quan hệ giữa mô hình vận tốc sóng P của manti và hoạt tính địa động lực hiện đại thạch quyển Đông Nam Á. Kết quả cho thấy:

1/ Đới hút chìm bao quanh Đông Nam Á có đặc trưng cấu trúc vận tốc sóng P theo dạng “cột” trong manti trên, lớp chuyển tiếp và lớp phân chia thứ nhất: động đất tại các đới ranh giới mảng này có tần suất xuất hiện cao hơn và cấp độ mạnh lớn hơn phần nội mảng.

2/ Đới đứt gãy nội mảng Hải Nam – Natuna có vai trò là ranh giới phân chia manti nội mảng Đông Nam Á làm hai phần rõ rệt: Phần phía Đông có biểu hiện phân lớp ngang rõ nét, trong khi tại phần phía Tây có sự xáo trộn rõ rệt của mô hình vận tốc sóng P theo chiều thẳng đứng và ngang.

3/ Sự xuất hiện các “dòng chảy manti” từ ngoài vào tạo nên sự xáo động mạnh mẽ của manti nội mảng Đông Nam Á.

Bài 33: DỊCH CHUYỂN F-K VÀ ENTROPY CỰC TIỂU TRONG XỬ LÝ TÀI LIỆU RA ĐA XUYÊN ĐẤT

NGUYỄN THÀNH VẤN, NGUYỄN VĂN THUẬN, ĐẶNG HOÀI TRUNG

Khoa Vật lý - Vật lý Kỹ thuật, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐH QG TPHCM, Nguyễn Văn Cừ, P.5, Tp. HCM

Tóm tắt: Việc sử dụng các phương pháp dịch chuyển trong địa chấn để xử lý số liệu ra đa xuyên đất đã được nhiều tác giả thực hiện: Szaraniec (1976, 1979); Ursin (1983), Lee và các cộng sự (1987); Zhdanov(1988). Cơ sở của phương pháp này là đưa trường sóng quan sát về đúng vị trí dị vật, khi đó năng lượng các điểm tán xạ hội tụ và dị vật được thể hiện rõ nét nếu áp dụng vận tốc của sóng điện từ chính xác. Tuy nhiên, việc xác định vận tốc chính xác để dịch chuyển rất khó khăn và tốn nhiều thời gian. Vì vậy, tác giả kết hợp phương pháp dịch chuyển F-K (frequency-wavenumber) và entropy cực tiểu để giải quyết vấn đề trên. Như vậy, quá trình xử lý số liệu GPR được thực hiện theo các bước sau. Thứ nhất, áp dụng dịch chuyển F-K vào xử lý số liệu GPR. Thứ hai, xác định vận tốc dịch chuyển chính xác theo entropy cực tiểu. Cuối cùng, độ sâu và kích thước của dị vật được xác định phục vụ cho công tác xây dựng bản đồ công trình ngầm Tp. Hồ Chí Minh.

Bài 34: TÍNH ĐÀN HỒI PHI TUYẾN ĐỊA CHẤN CỦA VỈA DẦU KHÍ VÀ ỨNG DỤNG THỰC TẾ

TRƯƠNG MINH

Hội KHKT Địa Vật lý Việt Nam

Tóm tắt: Nghiên cứu số liệu trong các giếng dầu khí cho thấy có sự tăng hấp thụ và tán sắc vận tốc pha sóng địa chấn dọc trong vỉa dầu khí. Điều đó được giải thích là do tầng chứa dầu khí thường có thành phần thạch học không đồng nhất và được gọi là môi trường đàn hồi phi tuyến (nonlinear elastic medium). Ngoài ra, còn có nguyên nhân khác là tímh chất bất ổn định nhiệt động lực của hn hợp phức tạp sự chuyển đổi pha (khí/chất lỏng) của chất lưu khi có sóng địa chấn truyền qua. Các hiệu ứng này liên quan đến tính đàn hồi phi tuyến địa chấn và có thể được sử dụng trong các giai đoạn khác nhau trong tìm kiếm-thăm dò dầu khí.  

Bài 35: MÔ HÌNH CẮT LỚP SÓNG ĐỊA CHẤN KHU VỰC THỦY ĐIỆN SÔNG TRANH 2

CAO ĐÌNH TRỌNG, PHẠM NAM HƯNG, ĐINH QUỐC VĂN, LÊ QUANG KHÔI

Viện Vật lý Địa cầu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt: Phương pháp cắt lớp sóng địa chấn nông được các tác giả sử dụng trong nghiên cứu này. Kết quả cho thấy:

1/ Vận tốc sóng P khu vực lòng hồ Sông Tranh 2 và kề cận có giá trị biến đổi trong giới hạn từ 5,90 km/s2 đến xấp xỉ 6,10 km/s2 (Vp=5,90-6,10), Vs= 3,50-3,60 km/s2 và Vp/Vs= 1,63-1,68.

2/ Độ sâu chấn tiêu động đất vùng hồ Sông Tranh 2 đạt tối đa 10 km, xảy ra chủ yếu tại đới giao nhau của đứt gãy Rào Quán - A Lưới và Trà My - Trà Bồng, nơi có tỷ số vận tốc Vp/Vs = 1,63-1,67.

Bài 36: RA ĐA XUYÊN ĐẤT TRONG KHẢO SÁT CÔNG TRÌNH NGẦM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐẶNG HOÀI TRUNG, NGUYỄN THÀNH VẤN, VÕ MINH TRIẾT,
NGUYỄN VĂN THUẬN, VÕ NGUYỄN NHƯ LIỄU

Bộ môn Vật lý Địa cầu, Khoa Vật lý – Vật lý Kỹ thuật, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Tp. HCM

Tóm tắt: Xây dựng bản đồ công trình ngầm là việc làm không thể thiếu của các đô thị hiện đại trên thế giới, và Tp. HCM cũng không ngoại lệ. Tuy nhiên, do sự thiếu hụt thông tin về các công trình ngầm trước năm 1975, việc xuất hiện ngày càng dày đặc các công trình mới, cùng với sự thiếu nhất quán trong quản lý đã khiến Tp. HCM phải đối mặt với nhiều khó khăn khi giải quyết bài toán không gian ngầm. Với mục đích góp phần cùng thành phố tìm ra phương pháp thích hợp nhất để giải quyết vấn đề trên, tác giả đã tiến hành khảo sát ra đa xuyên đất để kiểm tra và định vị một số công trình ngầm (hệ thống cấp thoát nước, các loại cáp) ở vài tuyến đường tại Tp. HCM. Kết quả khảo sát cho thấy rất nhiều công trình không có vị trí đúng theo thông tin lưu trữ, thậm chí các công trình mới chưa được cập nhật đầy đủ. Những phát hiện của chúng tôi đã góp phần bảo đảm an toàn cho các công trình dân dụng, xây dựng tuyến tàu điện ngầm Metro 2, thiết kế và thi công hệ thống cấp thoát nước mới, cũng như giúp xác định nguyên nhân xảy ra “hố phun lửa” ở Quận Bình Thạnh, Tp. HCMinh. 

Bài 37: MỘT SỐ KẾT QUẢ ỨNG DỤNG CỦA ĐO CAO VỆ TINH TRONG NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT BIỂN ĐÔNG VIỆT NAM

TRẦN TUẤN DŨNG1, NGUYỄN THỊ HẢI HÀ1,
NGUYỄN QUANG MINH1, BÙI THỊ NHUNG2

1Viện Địa chất và Địa Vật lý Biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2Viện Vật lý Địa cầu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội

     Tóm tắt:Trong bài báo này, các tác giả tập trung vào phân tích đánh giá hiệu quả của việc sử dụng số liệu đo cao vệ tinh trong nghiên cứu địa chất Biển Đông. Một loạt các yếu tố địa chất như hệ thống các đứt gãy, trục tách dãn đáy biển, cũng như sự phân bố các núi lửa, các bể trầm tích được phát hiện, xác định bằng các phương pháp mô hình 2D, 3D minh giải tài liệu đo cao vệ tinh. Các kết quả nghiên cứu của bài báo là phù hợp và được kiểm tra xác thực bởi các tài liệu nghiên cứu trực tiếp trên biển hiện có trong Khu vực Biển Đông Việt Nam.

Bài 38: THÀNH LẬP CÁC BẢN ĐỒ VỀ CÁC THÀNH PHẦN CỦA TRƯỜNG ĐỊA TỪ BÌNH THƯỜNG TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM VÀ BIỂN ĐÔNG

TÔN TÍCH ÁI

Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Các phương pháp cơ bản để nghiên cứu trường từ của Trái đất là các quan sát trực tiếp về sự phân bố không gian của trường từ cũng như các biến thiên của nó trên mặt đất, mặt biển và trong không gian quanh đó.

Chính vì vậy mà các nhà địa từ trên thế giới đã tiến hành lập các công thức tính trường địa từ dựa trên các công thức  khai triển Gauss.

Trong công trình này tác giả đã sử dụng công thức tính của IGRF11, các số liệu tính toán được phục vụ cho việc lập bản đồ các thành phần của trường địa từ trên lãnh thổ Việt Nam, Biển Đông, và một số vùng lân cận. Các tính toán dựa trên Website www.noaa.gov/geomag-web/#grfwmm, và các số liệu đã được tính toán này được sử dụng để thành lập các bản đồ trường địa từ vùng cần nghiên cứu.

Các kết quả thu được là các số liệu định hướng cho việc nghiên cứu hàng hải cũng như phục vụ cho việc tính toán các dị thường từ cũng như nghiên cứu các biến thiên thế kỷ.

Bài 39: KẾT QUẢ ĐO SÂU TỪ TELUA TUYẾN SỐP CỘP – SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA

VÕ THANH SƠN1, LÊ HUY MINH1, GUY MARQUIS2,
NGUYỄN HÀ THÀNH1, TRƯƠNG QUANG HẢO1, NGUYỄN CHIẾN THẮNG1

1Viện Vật lý Địa cầu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2Viện Vật lý Địa cầu Strasbourg, Cộng hòa Pháp

Tóm tắt: Tuyến đo sâu từ telua Sốp Cộp - Sông Mã đã được tiến hành trên địa phận của tỉnh Sơn La. Tuyến đo Sốp Cộp - Sông Mã có chiều dài khoảng 35 km với 12 điểm đo và khoảng cách giữa các điểm đo khoảng 2,5 km. Chúng tôi đã tiến hành nghịch đảo 2D số liệu thu thập được. Từ kết quả nghịch đảo 2D, cho phép tác giả xác định được vị trí, độ sâu và hướng cắm của các đứt gãy: Sông Mã và Sốp Cộp - Quan Sơn. Đây là những đứt gãy sâu, biểu hiện bằng các ranh giới thay đổi điện trở rõ rệt. Trên mặt cắt địa điện tuyến Sốp Cộp - Sông Mã, cấu trúc địa điện của vỏ Trái đất có 3 lớp tiêu biểu, với lớp giữa có điện trở suất cao hơn lớp trên và lớp dưới.

Bài 40: PHƯƠNG PHÁP VECTƠ CẢM ỨNG VÀ TỪ BIẾN ĐỔI TRONG XỬ LÝ SỐ LIỆU TỪ TELUA

NGUYỄN THÀNH VẤN, VÕ NGUYỄN NHƯ LIỄU

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Tp.HCM, Nguyễn Văn Cừ, P.5, Tp. HCM

Tóm tắt: Khi nghiên cứu bất đồng nhất về địa điện của môi trường trong phương pháp từ telua, ngoài những nghiên cứu về lý thuyết, người ta còn tìm cách cải tiến việc thu thập số liệu. Trước đây, chỉ có hai thành phần trường từ được đo đạc là Hx và Hy [1, 2]. Hiện nay, để tăng thêm thông tin về sự thay đổi độ dẫn theo phương ngang, người ta còn tiến hành đo đạc thêm thành phần Hz. Mối liên hệ giữa ba thành phần này của trường từ được thể hiện thông qua ma trận Wiese-Parkinson. Có hai phương pháp chính nhằm tiếp cận và xử lý ma trận Wiese-Parkinson là vectơ cảm ứng và từ biến đổi. Trong bài báo này, tác giả sẽ trình bày tổng quan về hai phương pháp trên cũng như việc ứng dụng chúng vào xử lý số liệu ở vùng Nam Kamchatka, nhằm đưa ra những đánh giá hữu ích, phục vụ công tác nghiên cứu từ telua.

Bài 41: ĐÁNH GIÁ TÍNH KHẢ DỤNG CỦA SỐ LIỆU CÁC HỆ ĐỊNH VỊ TRONG XÁC ĐỊNH CHUYỂN DỊCH HIỆN ĐẠI VỎ TRÁI ĐẤT

VY QUỐC HẢI

Viện Địa chất, Ngõ 84, Phố Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội

Tóm tắt: Tính khả dụng các loại số liệu định vị được nghiên cứu trên cơ sở kết quả xử lý số liệu bảy ca đo từ ngày thứ 094 đến ngày thứ 100 năm 2010 của các điểm BAKO, COCO, LHAZ và NTUS và xem xét các thông số liên quan.

- Số liệu (hay hệ GLONASS) hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu trong thiết lập hệ quy chiếu quốc gia. Trong nghiên cứu địa động lực, số liệu GLONASS là công cụ hiệu quả hỗ trợ, kiểm tra kết quả xử lý số liệu GPS. Là một phần trong tệp số liệu hỗn hợp GPS/GLONASS, số liệu GLONASS góp phần nâng cao độ chính xác, độ tin cậy khi xử lý số liệu hỗn hợp.

- Số liệu (hay hệ) GPS và số liệu hỗn hợp GPS/GLONASS hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu xác định chuyển dịch vỏ Trái đất.

Bài 42: XÂY DỰNG MÔ HÌNH VẬN TỐC VÀ CÁC TỐC ĐỒ THỜI GIAN TRUYỀN SÓNG ĐỊA CHẤN TRONG VỎ TRÁI ĐẤT CHO CÁC KHU VỰC MIỀN BẮC, MIỀN TRUNG VÀ MIỀN NAM VIỆT NAM

NGÔ THỊ LƯ, TRẦN VIỆT PHƯƠNG, VŨ THỊ HOÃN, LÊ THỊ THUẤN

Viện Vật lý Địa cầu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt: Trong công trình này, lần đầu tiên ở Việt Nam, vấn đề xây dựng tốc đồ thời gian truyền sóng và xác định mô hình vận tốc vỏ Trái đất lãnh thổ Việt Nam đã được tiến hành một cách hệ thống theo một phương pháp luận thống nhất trên cơ sở sử dụng một tập hợp phong phú các số liệu về thời gian truyền sóng P và sóng S trên băng ghi địa chấn và chương trình tính toán đã được thiết lập bởi tập thể tác giả.

Đã xây dựng được họ các tốc đồ thời gian truyền sóng trung bình và các mô hình vận tốc vỏ Trái đất theo cả hai loại sóng P và S đối với miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam .

Các mô hình vận tốc sóng P và sóng S của vỏ Trái đất khu vực miền Trung và miền Nam có sự tương đồng rất rõ rệt cả về số lớp trong vỏ Trái đất cũng như độ sâu ranh giới (hay là chiều dày của các lớp) trong mỗi khu vực, chứng tỏ mức độ chính xác của các số liệu được sử dụng cũng như tính đúng đắn của các mô hình đã được xây dựng cho hai khu vực này.

Đối với khu vực miền Bắc, cả hai mô hình vận tốc sóng P và sóng S đều phản ánh môi trường 4 lớp với các độ sâu ranh giới của lớp thứ nhất khá tương đồng nhau H1 ~ 3-5 km; Chỉ có sự khác biệt về độ sâu ranh giới của các lớp tiếp theo. Sự khác biệt này có thể do sự nhầm lẫn trong quá trình quy toán số liệu, phân biệt và xác định chưa chính xác thời điểm tới của các pha khác nhau của sóng S trên băng ghi động đất.

Các mô hình vận tốc truyền sóng địa chấn trong vỏ Trái đất nhận được trong nghiên cứu này vừa chi tiết, đầy đủ, vừa phù hợp với các điều kiện thực tế của từng khu vực và có độ tin cậy cao. Do đó có thể sử dụng chúng trong công tác định vị chấn tiêu động đất Việt Nam để xác định chính xác các tham số cơ bản của chấn tiêu động đất.

Bài 43: TUYÊN BỐ của Tổng hội Địa chất Việt Nam về việc Trung Quốc đặt giàn khoan trái phép trong vùng biển Việt Nam

 

Lock full review www.8betting.co.uk 888 Bookmaker

Bản quyền thuộc Tổng cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam.
Địa chỉ: Số 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội. Tel: (84-4) 38260674. Fax: (84-4) 38254734. Email: webmaster@dgmv.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Tổng Cục Trưởng Tổng cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam.

External links are provided for reference purposes. The World News II is not responsible for the content of external Internet sites.
Template Design © Joomla Templates | GavickPro. All rights reserved.