• Thứ năm, 27 Tháng 7 năm 2017
  • Thứ năm, 27 Tháng 7 năm 2017

Tạp chí địa chất Số 333/1-2/2013

Tạp chí địa chất

 

Số 333/1-2/2013

Bài 1.MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU VỀ

ĐỘNG ĐẤT KÍCH THÍCH HỒ THỦY ĐIỆN SÔNG TRANH 2

CAO ĐÌNH TRIỀU, ĐINH QUỐC VĂN, BÙI ANH NAM, HÀ VĨNH LONG

Viện Vật lý Địa cầu, VAST A8/18 Hoàng quốc Việt, Cầu Giấy - Hà Nội

       Tóm tắt: Trong khuôn khổ bài báo này các tác giả bước đầu tìm hiểu biểu hiện hoạt động động đất kích thích hồ thủy điện Sông Tranh 2 trong thời gian qua. Kết quả nghiên cứu cho thấy:

1/ Động đất xảy ra tại khu vực hồ thủy điện Sông Tranh 2 trong thời gian qua là loại động đất kích thích. Các chấn tâm động đất nằm trong phạm vi đới đứt gãy hoạt động Trà My - Trà Bồng phương á vĩ tuyến (2800-3000), có nguy cơ phát sinh động đất cấp độ mạnh tại khu vực lòng hồ và hạ du là 5,7-6,1. Đồ thị phân bố động đất theo Quy luật Gutenberg - Richter có hệ số b= 0,8317, lớn hơn nhiều so với động đất tự nhiên trong khu vực (b= 0,604). Chu kỳ lặp lại động đất cấp độ mạnh từ 4,5 đến 6,0 như sau: M= 4,5 là 11 tháng; M= 5,0 (29 tháng); M= 5,5 (76 tháng); M= 6,0 (198 tháng).

2/ Chấn tâm động đất hồi 13 giờ 41 phút 28 giây (GMT), MS= 4,6, I0= 6,0 (MSK-64) ngày 22 tháng 10 năm 2012 xảy ra tại trung tâm hồ, cách tâm đập ST2 khoảng 5,5 km về phía tây. Độ sâu chấn tiêu động đất là khoảng 4,5 km; chiều dài của đứt đoạn trong chấn tiêu là cỡ 1,8 km, kéo dài theo phương 2850, trượt bằng phải với yếu tố thuận; góc cắm của mặt trượt trong đứt đoạn chấn tiêu là khoảng 750; phương nén của trường ứng suất khoảng 3200.

Bài 2.BẢN ĐỒ CÁC TRƯỜNG DỊ THƯỜNG TRỌNG LỰC VIỆT NAM (PHẦN ĐẤT LIỀN) TỶ LỆ 1:500.000, NIÊN ĐẠI 2011 

 LẠI MẠNH GIÀU, LÊ THANH HẢI, CHU QUỐC KHÁNH, KIỀU HUỲNH PHƯƠNG

Liên đoàn Vật lý Địa chất, Km 9, đường Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

       Tóm tắt: Các bản đồ dị thường trường trọng lực Việt Nam (Phần đất liền) tỷ lệ 1:500.000, niên đại 2011 được biên tập hoàn chỉnh trên cơ sở cập nhật các số liệu đo trọng lực thu thập được đến thời điểm 2011, tăng dày mạng lưới điểm quan sát với mật độ điểm đo trung bình bằng 30,08 km2/ điểm, tương ứng 12.597 điểm vật lý trọng lực/ 330.000 km2 theo tỷ lệ 1: 500.000. Việc biên vẽ và thành lập đã được thực hiện theo hệ thống chung thống nhất ở Việt Nam: hệ quy chiếu, hệ tọa độ VN2000, hệ thống trọng lực quốc gia liên kết với hệ thống trọng lực quốc tế mới và công nghệ tin học hóa bằng phần mềm Mapinfo*.table. Dữ liệu được quản lý theo hệ thống GIS hiện đại dễ dàng, thuận tiện truy cập tìm kiếm, kết xuất. Bản đồ các trường dị thường trọng lực Việt Nam tỷ lệ 1:1.000.000 (Phần đất liền) sẽ được xuất bản. Đó là bản đồ trường dị thường Fai và dị thường Bouguer với mật độ lớp giữa bằng 2,67 g/cm3 và 2,58 g/cm3, có thiết diện đẳng trị là 5 mGal với sai số xác định dị thường Bouguer ±1,15 mGal.

Bài 3.BÙ TRƯỜNG TỪ TRONG CÔNG TÁC KHẢO SÁT TỪ HÀNG KHÔNG

KIÊU TRUNG THỦY, VŨ TUẤN HÙNG, NGUYỄN TUẤN NĂM, TRƯƠNG CÔNG ÁNH

Liên đoàn Vật lý Địa chất, Km 9, Thanh Xuân, Hà Nội

        Tóm tắt: Bù trường từ là yêu cầu kỹ thuật cần thiết trong khảo sát từ hàng không. Các công ty bay đo địa vật lý trên thế giới rất chú trọng nghiên cứu chế tạo thiết bị, phương pháp kỹ thuật bay đo để nhằm hạn chế tối đa  sự ảnh hưởng trường từ thứ cấp của máy bay lên kết quả đo. Độ nhạy của các thiết bị đo từ hàng không hiện nay thường nhỏ hơn 0,01 nT nên đòi hỏi công nghệ bù trường từ phải có sự phát triển tương ứng. Sự phát triển của công nghệ GPS đã giúp cho phương pháp bù trường từ có thêm sự hỗ trợ tích cực. Các thiết bị đo ghi, thiết bị bù trường từ, thiết bị GPS và phương pháp kỹ thuật thực hiện đang được sử dụng rộng rãi hiện nay đã làm giảm đáng kể ảnh hưởng  trường từ thứ cấp của máy bay, nên kết quả đo có thể nhỏ hơn 1 nT. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với công các khảo sát từ hàng không độ chính xác cao đang được áp dụng rộng rãi trong việc tìm kiếm khoáng sản từ tính yếu, tìm kiếm dầu khí… Ở Việt Nam, bù trường từ trong công tác khảo sát từ hàng không đã được áp dụng từ lâu, đem lại chất lượng cho tài tiệu từ hàng không và hiệu quả địa chất của phương pháp.

Bài 4.VỀ CÁC TRẦM TÍCH TUỔI CARBON HẠ-PERMI TRUNGỞ VÙNG MƯỜNG LỐNG, HUYỆN KỲ SƠN, NGHỆ AN

NGUYỄN BÁ MINH1, TẠ HÒA PHƯƠNG2, ĐOÀN NHẬT TRƯỞNG3

1 Tổng cục Địa chất và Khoáng sản;
2 Khoa Địa chất, trường Đại học KHTN, Hà Nội;
3 Tổng hội Địa chất Việt Nam.

      Tóm tắt: Các mặt cắt của loạt trầm tích Carbon hạ, Vise-Permi trung ở khu vực Bắc Trung Bộ được xem là giống nhau nên được xếp vào một thang địa tầng duy nhất gồm hệ tầng La Khê (C1 lk) và hệ tầng Bắc Sơn (C-P bs). Tuy nhiên, các nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mặt cắt các trầm tích Carbon hạ, Vise-Permi trung ở vùng Mường Lống (tây bắc tỉnh Nghệ An) có sự khác biệt với mặt cắt ở các vùng khác thuộc Bắc Trung Bộ về đặc điểm mặt cắt, thành phần thạch học và hóa thạch. Khác biệt này cho phép xác lập một hệ tầng mới - hệ tầng Pha Sắc (C1v ps) tuổi Carbon sớm và khôi phục lại hệ tầng Mường Lống (C-P2 ml) tuổi Carbon-Permi cho vùng Mường Lống.

Bài 5.NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ THÁP KHOAN DẠNG CỘT THAY THẾ THÁP KHOAN BA CHÂN TRÊN MÁY KHOAN XY-1

VŨ BÁ MUÔN, NGUYỄN CHÍ KIÊN

Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao công nghệ Địa chất - Khoáng sản,
Tổng cục Địa chất và Khoáng sản, 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội

         Tóm tắt: Trong công tác khoan thăm dò địa chất - khoáng sản, việc giữ cho máy khoan luôn ổn định, không bị xê dịch trong quá trình kéo thả cần khoan có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi nó có ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ khoan, độ cong lệch của lỗ khoan và chất lượng lấy mẫu lõi khoan. Để giải quyết được vấn đề này, Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao công nghệ Địa chất - Khoáng sản đã nghiên cứu, thiết kế tháp khoan dạng cột thay thế tháp khoan ba chân trên máy khoan XY-1. Việc sử dụng tháp khoan dạng cột trên máy XY-1 không những giữ cho máy khoan ổn định hơn trong quá trình kéo thả cần khoan, mà thêm vào đó việc lắp tháp khoan cũng đơn giản và thuận lợi hơn rất nhiều so với tháp khoan ba chân. Đặc biệt nó còn xoay nghiêng được theo đầu máy khoan.


Bài 6.NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH  ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH  CỦA  ĐẤT LOẠI SÉT YẾU THUỘC TRẦM TÍCH HOLOCEN
TRUNG-THƯỢNG PHÂN BỐ Ở ĐỒNG BẰNG CỬU LONG PHỤC VỤ XÂY DỰNG ĐƯỜNG

ĐỖ MINH TOÀN, NGUYỄN THỊ NỤ

Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội

        Tóm tắt: Bài báo trình bày những kết quả nghiên cứu đặc tính địa chất công trình của đất loại sét yếu thuộc trầm tích Holocen trung-thượng (amQII2-3) phân bố ở đồng bằng Cửu Long: phổ biến là bùn sét và bùn sét pha, mới được thành tạo, diện phân bố hầu như khắp đồng bằng Cửu Long, với bề dày trung bình khoảng 10 m, có nơi trên 20 m. Đất có thành phần khoáng vật sét chủ yếu là kaolinit, illit, sau đó là chlorit và montmorillonit, thuộc dạng nhiễm muối và nhiễm muối ít, có nơi muối đạt tới 2%, hàm lượng hữu cơ đạt tới 10. Đất hầu như chưa được nén chặt, độ lỗ rỗng lớn, tính nén lún cao và sức kháng cắt nhỏ. Đây là các đối tượng không thuận lợi cho việc xây dựng nói chung, cũng như xây dựng đường nói riêng. Các loại đất này cũng không thuận lợi khi tiến hành cải tạo đất bằng chất kết dính vô cơ. Khi tiến hành xử lý nền đường, có thể sử dụng chất kết dính vô cơ kết hợp các phụ gia hoặc sử dụng các giải pháp thoát nước thẳng đứng.

THÔNG BÁO KHOA HỌC

Bài 7.“HỆ TẦNG NẬM MẶN” VÀ CÁC ĐỊA TẦNG TƯƠNG ĐỒNG TRONG HỆ TẦNG SUỐI BÀNG Ở TÂY BẮC BỘ

BÙI PHÚ MỸ 1, ĐOÀN NHẬT TRƯỞNG 2, NGUYỄN ĐÌNH HỮU 2,  NGUYỄN VĂN HOÀNH 3, NGUYỄN VĂN LỒNG 2, NGUYỄN VĨNH 1, PHAN SƠN 3, TRẦN ĐĂNG TUYẾT 3

1Hội Địa chất Tp. Hồ Chí Minh,
2Hội Cổ sinh Địa tầng, Đại học Quốc gia Hà Nội
3Tổng hội Địa chất VN, 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội

       Tóm tắt:“Hệ tầng Nậm Mặn” được xác lập năm 2001 bởi các tác giả Bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản nhóm tờ Mường Tè tỷ lệ 50.000 do Lê Hùng làm chủ biên. Theo các tác giả này,“hệ tầng Nậm Mặn” phủ trực tiếp trên granit Paleozoi muộn và nằm chuyển tiếp dưới hệ tầng Suối Bàng (T3 n-r sb). Trong hệ tầng đã phát hiện được hóa thạch Hai mảnh vỏ Carni và Nori, nên tuổi hệ tầng được định là Carni muộn - Nori.

   Nhóm tác giả bài báo “Tài liệu mới về hệ tầng Nậm Mặn vùng Mường Tè” [2] có tổ chức khảo sát thêm ở mặt cắt chuẩn của hệ tầng vào tháng 3 và 4/2011, đã thu thập được hai tập hợp hóa thạch: tập hợp San hô có tuổi Carni muộn, và tập hợp Hai mảnh vỏ có tuổi Nori. Kết quả đợt khảo sát này xác nhận là ở đây có những trầm tích lục nguyên carbonat hiện được mô tả ở “hệ tầng Nậm Mặn” [5, 6]; đó chính là phần dưới của hệ tầng chứa than Suối Bàng [4].

 Trong bài này, sau khi đã xem xét các mặt cắt hệ tầng Suối Bàng, các tác giả thấy rằng:

1/ Mặt cắt của “hệ tầng Nậm Mặn” tương đồng với phần thấp nhất của hệ tầng Suối Bàng trên toàn Tây Bắc Bộ.

2/ Tài liệu liên quan hiện có trên toàn Tây Bắc Bộ đã cho phép minh định:

  - “Hệ tầng Nậm Mặn” và phần thấp nhất của hệ tầng Suối Bàng có tuổi trẻ nhất cũng phải là Nori sớm. Hệ tầng Suối Bàng bắt đầu hình thành vào khoảng tuổi này, không loại trừ khả năng vào Carni muộn, rất muộn.

 - Gíán đoạn địa tầng giữa hệ tầng Suối Bàng với các trầm tích cổ hơn, phải xảy ra vào Carni muộn, hoặc giữa Carni muộn và Nori sớm.         

Bài 8. PHÁT HIỆN MẶT CẮT OPHIOLIT Ở VÙNG BIỂN KỲ HÀ,TỈNH QUẢNG NAM

NGUYỄN ĐỨC THẮNG 2, VŨ TRƯỜNG SƠN1, NGUYỄN BIỂU2,TRỊNH NGUYÊN TÍNH1, LÊ ANH THẮNG1

1Trung tâm Địa chất và Khoáng sản Biển, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam,

 2Tổng hội Địa chất Việt Nam

TIN ĐỊA CHẤT

Bài 9.MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỦY ĐIỆN SÔNG TRANH 2

NGUYỄN XUÂN BAO

Hội Địa chất Tp. Hồ Chí Minh

Bài 10. TƯỞNG NHỚ GS.TSKH VŨ KHÚC - NHÀ CỔ SINH-ĐỊA TẦNG LỚN CỦA VIỆT NAM

Bài 11. TƯỞNG NHỚ NHÀ ĐỊA CHẤT, GS.TSKH VŨ NGỌC HẢI

Bài 12. TƯỞNG NHỚ GS.TSKH NGUYỄN NGHIÊM MINH

Lock full review www.8betting.co.uk 888 Bookmaker

Bản quyền thuộc Tổng cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam.
Địa chỉ: Số 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội. Tel: (84-4) 38260674. Fax: (84-4) 38254734. Email: webmaster@dgmv.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Tổng Cục Trưởng Tổng cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam.

External links are provided for reference purposes. The World News II is not responsible for the content of external Internet sites.
Template Design © Joomla Templates | GavickPro. All rights reserved.